Đ
Đăng Kiên
Guest
Áp lực vốn ngày càng lớn
Sau giai đoạn chịu tác động từ suy giảm nhu cầu tiêu dùng toàn cầu, ngành thủy sản Việt Nam đang từng bước lấy lại đà tăng trưởng. Tuy nhiên, quá trình phục hồi vẫn đối mặt với nhiều thách thức khi chi phí sản xuất duy trì ở mức cao, yêu cầu từ thị trường xuất khẩu ngày càng khắt khe và áp lực cạnh tranh liên tục gia tăng.
Tại các vùng nuôi trọng điểm, giá thức ăn thủy sản, con giống, vật tư môi trường, nhiên liệu và chi phí logistics vẫn là gánh nặng đối với người sản xuất. Trong khi đó, giá bán nhiều mặt hàng thủy sản chưa ổn định, khiến lợi nhuận của người nuôi và doanh nghiệp bị thu hẹp. Đối với các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu, áp lực còn đến từ yêu cầu đầu tư nâng cấp công nghệ, hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc, đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường và phát triển bền vững từ các thị trường nhập khẩu.
Tại các vùng nuôi trọng điểm, giá thức ăn thủy sản, con giống, vật tư môi trường, nhiên liệu và chi phí logistics vẫn là gánh nặng đối với người sản xuất. Trong khi đó, giá bán nhiều mặt hàng thủy sản chưa ổn định, khiến lợi nhuận của người nuôi và doanh nghiệp bị thu hẹp. Đối với các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu, áp lực còn đến từ yêu cầu đầu tư nâng cấp công nghệ, hoàn thiện hệ thống truy xuất nguồn gốc, đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường và phát triển bền vững từ các thị trường nhập khẩu.
Những yêu cầu mới đặt ra đòi hỏi nguồn vốn lớn không chỉ để duy trì hoạt động sản xuất mà còn phục vụ đổi mới công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm. Với các hộ nuôi và hợp tác xã, nhu cầu vốn tập trung vào cải tạo ao nuôi, đầu tư hệ thống quan trắc môi trường, nâng cao chất lượng con giống và áp dụng các quy trình nuôi an toàn sinh học. Đây đều là những khoản đầu tư cần nguồn lực tài chính đáng kể.
Tuy nhiên, thủy sản là ngành chịu ảnh hưởng mạnh bởi thời tiết, dịch bệnh và biến động thị trường. Chính vì vậy, nhiều tổ chức tín dụng vẫn xem đây là lĩnh vực có mức độ rủi ro tương đối cao. Điều này phần nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người nuôi, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã hoặc các hộ sản xuất quy mô nhỏ.
Trước thực tế đó, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) đã nhiều lần kiến nghị Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho lĩnh vực nông, lâm, thủy sản; đồng thời có thêm các cơ chế hỗ trợ để doanh nghiệp và ngư dân thuận lợi hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn.
Theo VASEP, trong bối cảnh thị trường thế giới vẫn còn nhiều biến động, việc giảm chi phí vốn sẽ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh và có thêm nguồn lực để đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây cũng là điều kiện quan trọng để ngành thủy sản đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về phát triển bền vững và truy xuất nguồn gốc.
Tuy nhiên, thủy sản là ngành chịu ảnh hưởng mạnh bởi thời tiết, dịch bệnh và biến động thị trường. Chính vì vậy, nhiều tổ chức tín dụng vẫn xem đây là lĩnh vực có mức độ rủi ro tương đối cao. Điều này phần nào ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người nuôi, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã hoặc các hộ sản xuất quy mô nhỏ.
Trước thực tế đó, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) đã nhiều lần kiến nghị Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước tiếp tục duy trì các chương trình tín dụng ưu đãi dành cho lĩnh vực nông, lâm, thủy sản; đồng thời có thêm các cơ chế hỗ trợ để doanh nghiệp và ngư dân thuận lợi hơn trong việc tiếp cận nguồn vốn.
Theo VASEP, trong bối cảnh thị trường thế giới vẫn còn nhiều biến động, việc giảm chi phí vốn sẽ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động sản xuất, tăng khả năng cạnh tranh và có thêm nguồn lực để đầu tư vào công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đây cũng là điều kiện quan trọng để ngành thủy sản đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về phát triển bền vững và truy xuất nguồn gốc.
Mở rộng cánh cửa tiếp cận tín dụng
Nhằm hỗ trợ khu vực nông nghiệp, nông thôn, trong đó có ngành thủy sản, thời gian qua Ngân hàng Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách tín dụng ưu đãi thông qua Nghị định số 55/2015/NĐ-CP và các văn bản sửa đổi, bổ sung.
Theo ông Trần Anh Quý, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), ngoài chính sách lãi suất ưu đãi dành cho các lĩnh vực ưu tiên, khách hàng còn được hưởng nhiều cơ chế hỗ trợ về tài sản bảo đảm, hạn mức vay vốn và tín dụng theo chuỗi liên kết sản xuất.
Hiện nay, mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với cá nhân, hộ gia đình lên tới 300 triệu đồng; tổ hợp tác và hộ kinh doanh được vay tối đa 500 triệu đồng; chủ trang trại được vay tới 3 tỷ đồng; còn hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã có thể tiếp cận khoản vay lên đến 5 tỷ đồng.
Đối với các dự án ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, khách hàng có thể được vay tới 70 – 80% giá trị dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh. Đáng chú ý, tài sản hình thành từ vốn vay được phép sử dụng làm tài sản bảo đảm cho khoản vay, tạo điều kiện để doanh nghiệp và người sản xuất đầu tư đổi mới công nghệ mà không gặp quá nhiều áp lực về tài sản thế chấp.
Bên cạnh đó, các cơ chế tín dụng dành cho mô hình liên kết chuỗi cũng đang được đẩy mạnh. Theo quy định hiện hành, các tổ chức tín dụng có thể áp dụng hình thức quản lý dòng tiền phù hợp đối với các chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, giúp các thành viên trong chuỗi thuận lợi hơn trong tiếp cận vốn và sử dụng vốn hiệu quả.
Trong trường hợp đơn vị đầu mối thực hiện liên kết gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan hoặc bất khả kháng, ngân hàng có thể xem xét giữ nguyên nhóm nợ, cho vay mới để khôi phục sản xuất hoặc khoanh nợ tối đa ba năm không tính lãi. Đây là cơ chế có ý nghĩa thiết thực đối với ngành thủy sản, vốn thường xuyên chịu tác động của thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường.
Song song với việc hoàn thiện chính sách, nhiều ngân hàng thương mại cũng triển khai các gói tín dụng ưu đãi dành riêng cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản.
Hiện gần 20 ngân hàng thương mại đang tham gia chương trình tín dụng dành cho lĩnh vực này với tổng doanh số giải ngân lũy kế đạt trên 200.000 tỷ đồng và hơn 75.000 lượt khách hàng được vay vốn.
Agribank đang triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp xuất khẩu và khách hàng sản xuất kinh doanh với mức lãi suất thấp hơn từ 1 – 2%/năm so với thông thường. Trong khi đó, Vietcombank áp dụng các chương trình tín dụng dành cho doanh nghiệp xanh và doanh nghiệp xuất nhập khẩu với mức lãi suất ưu đãi thấp hơn từ 0,2 – 1%/năm. BIDV cũng triển khai gói tín dụng quy mô 200.000 tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng với lãi suất giảm khoảng 0,5%/năm so với mặt bằng chung.
Những chương trình này góp phần giảm áp lực chi phí tài chính, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động hơn trong thu mua nguyên liệu, duy trì sản xuất và thực hiện các đơn hàng xuất khẩu.
Theo ông Trần Anh Quý, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước), ngoài chính sách lãi suất ưu đãi dành cho các lĩnh vực ưu tiên, khách hàng còn được hưởng nhiều cơ chế hỗ trợ về tài sản bảo đảm, hạn mức vay vốn và tín dụng theo chuỗi liên kết sản xuất.
Hiện nay, mức cho vay không có tài sản bảo đảm đối với cá nhân, hộ gia đình lên tới 300 triệu đồng; tổ hợp tác và hộ kinh doanh được vay tối đa 500 triệu đồng; chủ trang trại được vay tới 3 tỷ đồng; còn hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã có thể tiếp cận khoản vay lên đến 5 tỷ đồng.
Đối với các dự án ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp, khách hàng có thể được vay tới 70 – 80% giá trị dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh. Đáng chú ý, tài sản hình thành từ vốn vay được phép sử dụng làm tài sản bảo đảm cho khoản vay, tạo điều kiện để doanh nghiệp và người sản xuất đầu tư đổi mới công nghệ mà không gặp quá nhiều áp lực về tài sản thế chấp.
Bên cạnh đó, các cơ chế tín dụng dành cho mô hình liên kết chuỗi cũng đang được đẩy mạnh. Theo quy định hiện hành, các tổ chức tín dụng có thể áp dụng hình thức quản lý dòng tiền phù hợp đối với các chuỗi sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản, giúp các thành viên trong chuỗi thuận lợi hơn trong tiếp cận vốn và sử dụng vốn hiệu quả.
Trong trường hợp đơn vị đầu mối thực hiện liên kết gặp rủi ro do nguyên nhân khách quan hoặc bất khả kháng, ngân hàng có thể xem xét giữ nguyên nhóm nợ, cho vay mới để khôi phục sản xuất hoặc khoanh nợ tối đa ba năm không tính lãi. Đây là cơ chế có ý nghĩa thiết thực đối với ngành thủy sản, vốn thường xuyên chịu tác động của thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường.
Song song với việc hoàn thiện chính sách, nhiều ngân hàng thương mại cũng triển khai các gói tín dụng ưu đãi dành riêng cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, thủy sản.
Hiện gần 20 ngân hàng thương mại đang tham gia chương trình tín dụng dành cho lĩnh vực này với tổng doanh số giải ngân lũy kế đạt trên 200.000 tỷ đồng và hơn 75.000 lượt khách hàng được vay vốn.
Agribank đang triển khai nhiều chương trình tín dụng ưu đãi dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp xuất khẩu và khách hàng sản xuất kinh doanh với mức lãi suất thấp hơn từ 1 – 2%/năm so với thông thường. Trong khi đó, Vietcombank áp dụng các chương trình tín dụng dành cho doanh nghiệp xanh và doanh nghiệp xuất nhập khẩu với mức lãi suất ưu đãi thấp hơn từ 0,2 – 1%/năm. BIDV cũng triển khai gói tín dụng quy mô 200.000 tỷ đồng hỗ trợ doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng với lãi suất giảm khoảng 0,5%/năm so với mặt bằng chung.
Những chương trình này góp phần giảm áp lực chi phí tài chính, tạo điều kiện để doanh nghiệp chủ động hơn trong thu mua nguyên liệu, duy trì sản xuất và thực hiện các đơn hàng xuất khẩu.
Để dòng vốn trở thành động lực phát triển
Mặc dù các chính sách hỗ trợ tín dụng đang ngày càng được hoàn thiện, song để dòng vốn thực sự phát huy hiệu quả vẫn cần sự phối hợp đồng bộ giữa ngân hàng, doanh nghiệp và chính quyền địa phương.
Về phía doanh nghiệp, việc nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính và xây dựng phương án sản xuất kinh doanh khả thi là yếu tố quan trọng giúp tăng khả năng tiếp cận vốn. Đối với người nuôi và hợp tác xã, việc tham gia các mô hình liên kết, sản xuất theo tiêu chuẩn và ứng dụng công nghệ sẽ góp phần giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả sản xuất và tạo niềm tin cho các tổ chức tín dụng.
Các địa phương cũng cần tiếp tục thúc đẩy phát triển vùng nuôi tập trung, hoàn thiện hạ tầng phục vụ sản xuất, hỗ trợ xây dựng chuỗi liên kết và khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ trong nuôi trồng, chế biến thủy sản. Khi hoạt động sản xuất được tổ chức bài bản và minh bạch hơn, khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân cũng sẽ được cải thiện.
Trong dài hạn, tín dụng không chỉ là nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất thường xuyên mà còn phải trở thành đòn bẩy cho quá trình chuyển đổi xanh và nâng cao giá trị gia tăng của ngành thủy sản. Khi dòng vốn được ưu tiên cho các mô hình nuôi trồng bền vững, công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn và chế biến sâu, ngành thủy sản sẽ có thêm điều kiện để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Việc tiếp tục tháo gỡ những nút thắt về tín dụng, kết hợp với sự chủ động đổi mới của doanh nghiệp và người nuôi, sẽ tạo nền tảng quan trọng để ngành thủy sản duy trì đà tăng trưởng, mở rộng thị trường và phát triển theo hướng hiện đại, bền vững trong những năm tới.
Về phía doanh nghiệp, việc nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính và xây dựng phương án sản xuất kinh doanh khả thi là yếu tố quan trọng giúp tăng khả năng tiếp cận vốn. Đối với người nuôi và hợp tác xã, việc tham gia các mô hình liên kết, sản xuất theo tiêu chuẩn và ứng dụng công nghệ sẽ góp phần giảm rủi ro, nâng cao hiệu quả sản xuất và tạo niềm tin cho các tổ chức tín dụng.
Các địa phương cũng cần tiếp tục thúc đẩy phát triển vùng nuôi tập trung, hoàn thiện hạ tầng phục vụ sản xuất, hỗ trợ xây dựng chuỗi liên kết và khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ trong nuôi trồng, chế biến thủy sản. Khi hoạt động sản xuất được tổ chức bài bản và minh bạch hơn, khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân cũng sẽ được cải thiện.
Trong dài hạn, tín dụng không chỉ là nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất thường xuyên mà còn phải trở thành đòn bẩy cho quá trình chuyển đổi xanh và nâng cao giá trị gia tăng của ngành thủy sản. Khi dòng vốn được ưu tiên cho các mô hình nuôi trồng bền vững, công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn và chế biến sâu, ngành thủy sản sẽ có thêm điều kiện để nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Việc tiếp tục tháo gỡ những nút thắt về tín dụng, kết hợp với sự chủ động đổi mới của doanh nghiệp và người nuôi, sẽ tạo nền tảng quan trọng để ngành thủy sản duy trì đà tăng trưởng, mở rộng thị trường và phát triển theo hướng hiện đại, bền vững trong những năm tới.
Phương Nhi
The post Khơi thông tín dụng, tiếp sức cho tăng trưởng thủy sản appeared first on Tạp chí Thủy sản Việt Nam.
Xem tiếp...